5 phương thức sản xuất: MTS, MTO, ATO, CTO, ETO… chiến lược kết nối giữa cung và cầu

0
729
AgileCRM

Trong quá trình tiếp xúc với khách hàng, tôi có cơ hội được gặp gỡ nhiều giám đốc sản xuất. Họ thường hay nói những thuật ngữ chuyên ngành như: MTS, MTO, ATO, CTO, ETO. Vậy chúng là gì? Chúng có ý nghĩa gì đối với các doanh nghiệp sản xuất?

Bài viết sau sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn những khái niệm này. Từ đó giúp bạn chọn lựa một chiến lược sản xuất hiệu quả. Một chiến lược hoạch định tốt sẽ giúp việc sản xuất và bán hàng được kết nối trơn tru, giúp đưa sản phẩm doanh nghiệp đến đúng nơi, đúng thời điểm và đầy đủ số lượng.

Định nghĩa và phân loại

1. MTS: Make To Stock – Sản xuất để tồn kho

Định nghĩa: là phương pháp sản xuất với mục đích dự trữ hàng hóa trong kho sau đó phân phối cho khách hàng

Sản phẩm: các sản phẩm thường có giá bán rẻ, những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống, hàng tiêu dùng. Ví dụ: nước ngọt, bia, sữa tắm, bánh kẹo, nông sản đóng gói.v.v.

  • Phương pháp sản xuất dựa trên những dự báo doanh số hoặc nhu cầu lịch sử.
  • Mục đích: dự trữ hàng hóa trong kho cho những dịp đặc biệt, những mặt hàng có nhu cầu tăng đột biến hoặc những sản phẩm tiêu dùng nhanh, thời quay vòng của sản phẩm cao.
  • MTS có lợi thế khi tách rời các quy trình sản xuất từ các đơn đặt hàng của khách hàng. Về mặt lý thuyết, điều này cho phép các đơn đặt hàng của khách hàng được lấp đầy ngay lập tức từ kho có sẵn. Nó cũng cho phép nhà sản xuất tổ chức sản xuất theo cách giảm thiểu thay đổi tốn kém và các gián đoạn khác.
  • Rủi ro cao trong việc đặt hàng hóa thành phẩm vào hàng tồn kho mà không có nhu cầu hoặc đơn đặt hàng từ khách. Những rủi ro này có xu hướng giới hạn môi trường MTS đối với các sản phẩm đơn giản, đa dạng hoặc hàng hóa thấp mà nhu cầu có thể được dự báo dễ dàng.

2. MTO: Make To Order – Sản Xuất Theo Đơn Đặt Hàng

Định nghĩa: là phương pháp sản xuất mà việc sản xuất chỉ bắt đầu sau khi nhận được đơn hàng của khách hàng.

Sản phẩm: Đa số các sản phẩm MTO đều mang giá trị cao, thời gian làm ra sản phẩm dài hơn, sản phẩm có thể bị lỗi thời theo thời gian. Ví dụ như máy móc thiết bị, nội thất. sản phẩm may mặc.v.v.

  • Các sản phẩm được sản xuất sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Sản phẩm cuối cùng thường là sự kết hợp của các mặt hàng được tiêu chuẩn hóa và tùy chỉnh để đáp ứng nhu cầu cụ thể của khách hàng.
  • Môi trường MTO phổ biến hơn khi khách hàng sẵn sàng chờ đợi để có được một sản phẩm với các tính năng độc đáo, các sản phẩm thường được tùy biến hoặc kỹ thuật cao.
  • Môi trường MTO chậm hơn để đáp ứng nhu cầu so với môi trường MTS và ATO, vì thời gian là cần thiết để làm cho các sản phẩm từ đầu. Cũng có ít rủi ro hơn liên quan đến việc xây dựng một sản phẩm khi có một đơn đặt hàng của khách hàng chắc chắn.

3. ATO: Assemble To Order – Lắp Ráp Theo Đơn Hàng

Định nghĩa: Sản xuất các bán thành phẩm trước cho đến khi có đơn đặt hàng mới tiến hành lắp ráp.

Sản phẩm: Những sản phẩm phù hợp để sản xuất theo mô hình này là những mặt hàng như máy tính, xe hơi, đồ nội thất…

  • Sản xuất các bán thành phẩm trước cho đến khi có đơn đặt hàng mới tiến hành lắp ráp (điều này sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí tồn kho).
  • Ở phương pháp này, các sản phẩm được lắp ráp từ các thành phần sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Các thành phần chính trong quá trình lắp ráp hoặc hoàn thiện được lên kế hoạch và dự trữ trong đơn đặt hàng của khách hàng. Biên nhận đơn đặt hàng bắt đầu lắp ráp sản phẩm tùy chỉnh.
  • Chiến lược này rất hữu ích khi một số lượng lớn các sản phẩm cuối cùng dựa trên việc lựa chọn các tùy chọn và phụ kiện có thể được lắp ráp từ các thành phần phổ biến.
  • Khi các sản phẩm quá phức tạp hoặc nhu cầu của khách hàng không thể dự đoán được, các nhà sản xuất có thể chọn giữ các sản phẩm phụ hoặc sản phẩm ở trạng thái bán thành phẩm. Hoạt động lắp ráp cuối cùng sau đó được tổ chức cho đến khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng.
  • Trong môi trường này, về mặt lý thuyết, các nhà sản xuất không thể giao sản phẩm cho khách hàng nhanh như môi trường MTS, vì cần thêm thời gian để hoàn thành việc lắp ráp cuối cùng.

4. CTO: Configure To Order – Cấu hình Theo Đơn Hàng

Định nghĩa: CTO là một biến thể của phương pháp MTO cho thành phẩm và ATO cho các bán thành phẩm. Trong đó việc cấu hình sản phẩm chỉ bắt đầu sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Tiêu chuẩn sản phẩm sẽ được xác định trước.

Sản phẩm: Những sản phẩm phù hợp để sản xuất theo mô hình này là những mặt hàng có thể tùy biến theo yêu cầu của khách hàng với giá trị không quá cao ví dụ như đồ nội thất, thực phẩm, …

  • CTO cho phép khách hàng của mình định cấu hình thành phẩm mà họ định mua. Thông thường, doanh nghiệp sẽ cung cấp nhiều lựa chọn cho khách hàng của mình từ đó họ có thể chọn các tùy chọn tốt nhất phù hợp với họ.

5. ETO: Engineer To Order – Thiết Kế Theo Đơn Hàng

Định nghĩa: Sản phẩm hoàn chỉnh sẽ được thiết kế, chế tạo sau khi đơn hàng đó được nhận theo yêu cầu của từng khách hàng riêng biệt.

Sản phẩm: Những sản phẩm phù hợp để sản xuất theo mô hình này là những mặt hàng có tính đặc thù và giá trị cao như công trình xây dựng, cầu đường, thiết kế nội thất,…

  • Đây là mô hình sản xuất mà sản phẩm hoàn chỉnh sẽ được thiết kế, chế tạo sau khi đơn hàng đó đã được nhận theo yêu cầu của từng khách hàng riêng biệt. Khách hàng có những yêu cầu riêng cho sản phẩm của mình nêu thành điều khoản trong hợp đồng. Thông số kỹ thuật của khách hàng yêu cầu thiết kế kỹ thuật độc đáo hoặc tùy chỉnh đáng kể. Mỗi đơn đặt hàng của khách hàng đều mang tính được lập và hầu như là duy nhất.
  • Về mặt lý thuyết, môi trường ETO là chậm nhất để thực hiện: Thời gian không chỉ cần thiết để xây dựng sản phẩm, mà còn phải thiết kế tùy chỉnh để đáp ứng các yêu cầu độc đáo của khách hàng.

Một chia sẻ từ Công ty phần mềm ERP Việt

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here